Những mốc quan trọng nhất của Lịch sử Lý thuyết xác suất

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Yani.Swh
Bảng Nhãn
Bảng Nhãn


Pig
Age : 21
Đến từ : Việt nam
Job/hobbies : Học sinh cấp 3 :)
Châm ngôn sống : Just Believe !
Cảm xúc :

Bài gửiTiêu đề: Những mốc quan trọng nhất của Lịch sử Lý thuyết xác suất   Tue Dec 23, 2008 8:43 am

Có thể nói sự bắt nguồn cho câu chuyện về xác suất và thống kê là từ một vài bài viết được đề cập từ những sự nỗ lực độc lập của Cardano (Liber de Ludo Aleae (1565), xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1663) và Galilei (Sopra le Scoperte dei Dadi (vào khoảng 1620), xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1718), nhưng vào thời điểm đó đã có một sự đồng quan điểm được nhận định từ một số câu hỏi về trò chơi cờ bạc được Antoine Gombaud, Chevalier de Méré và Damien Mitton gởi cho Pascal vào năm 1654.

Thời gian này chưa có báo chí khoa học như ngày nay, do đó cần có những phương thức khác thật sự cần thiết để nắm bắt và công bố những công trình nghiên cứu về môn khoa học mới. Thư từ là một trong những con đường giải quyết hiệu quả trở ngại này. Thật vậy, Martin Marsenne đã như là người trung gian giữ vai trò kết nối sự liên lạc giữa các nhà khoa học và triết học trên toàn châu Âu bằng cách viết và nhận những lá thư, sau đó chuyển chúng cho những người khác. Trong số những người bạn thư của ông có nhiều nhà khoa học và triết học như Descartes, Pascal, Fermat, Galilei và Huygens.





Thế kỷ 17


st1\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\:*{behavior:url(#ieooui) }
Năm 1654:
Giữa tháng 7 và tháng 10 của năm đó đã có 7 lá thư được trao đổi giữa Blaise Pascal và Pierre de Fermat có thể được xem chính là nguồn gốc đích thực của lý thuyết xác suất. Một trong các chủ đề chính của những lá thư này là thảo luận câu hỏi được đề cập trước đây của Méré về problème des partis (vấn đề chia điểm)giữa hai người chơi P1 và P2 khi họ chơi một chuỗi những ván chơi công bằng, và cuộc chơi sẽ kết thúc khi một trong 2 người chơi thắng được N ván chơi (N là số đã biết trước). Nhưng đột nhiên cuộc chơi bị gián đoạn. P1 đã thắng N1 ván chơi, P2 thắng N2 ván chơi. Làm thế nào để chia tiền thưởng?
Pascal dường như có ý định viết một cuốn sách ngắn về bài toán problème des partis (cách chia điểm) được gọi là Aleae Geometria nhưng dự định này chưa được thực hiện.
Năm 1656:
Đầu năm, Christiaan Huygens đã viết một bản thảo về Van Rekeningh in Spelen van Geluck và gửi cho Frans van Schooten, giáo sư toán học của trường đại học Leyden. Huygens là một trong những sinh viên cũ của ông. Van Schooten thật sự thích thú quan tâm tới bản thảo của Christiaan Huygens và muốn đưa nó vào thành phần cuối của cuốn sách toán mà ông đang viết.
Van Rekeningh in Spelen van Geluck là một chuyên luận ngắn khoảng 15 trang mà có lẽ Huygens có được dựa trên những gì ông ta nhận thấy về những vấn đề thảo luận qua thư từ giữa Pascal và Fermat trong suốt những năm đầu tiên ông ở Paris.
Trong bản thảo cuối cùng có chứa 14 vấn đề (Voorstellen) cùng với lời giải của chúng và 5 vấn đề dành cho người đọc giải quyết. Năm vấn đề cuối này là một phần nội dung thảo luận của Fermat và Pascal.
Vấn đề thứ 2 và thứ 4 trong 5 vấn đề cuối cùng này liên quan đến việc nhặt những mảnh vỡ đen và trắng trong khi bịt mắt (tiền thân của mô hình bình kín - the urn model). Vấn đề cuối cùng trong 5 vấn đề trên được biết đến như là vấn đề Gambler's Ruin, xuất phát từ thảo luận thư từ giữa Pascal và Fermat được tiếp tục vào năm 1656. Huygens đã nghe thấy những vấn đề của Pascal và Fermat này từ Pierre Carcavy. Năm vấn đề cuối cùng là nền tảng cho các nhà toán học sau này (như là Jacob và Nicholas Bernoulli, de Moivre và Montmort) nghiên cứu hay cải tiến dựa trên những lời giải mà Huygens sẽ công bố.
Năm 1657:
De Ratiociniis in Ludo Aleae, một bản dịch từ tiếng Latin của Van Rekeningh in Spelen van Geluck của tác giả Frans van Schooten, cùng với phần giới thiệu trong những bài viết của Huygens là ấn phẩm đầu tiên về xác suất (như trò cờ bạc). Đây cũng là phần cuối cùng của Van Schootens Exercitationum Mathematicarum libri quinque (Năm cuốn sách Bài tập Toán học).
Nhiều bản viết bằng tiếng Latin khác cũng được tìm thấy trong trang web đang xây dựng về Christiaan Huygens.
Năm 1660:
Bài viết gốc tiếng Hà Lan của Van Rekeningh in Spelen van Geluck, cùng với phần giới thiệu trong những bài viết của Huygens được Van Schooten xuất bản trong Mathematische Oeffeningen, begrepen in vijfboecken (bản dịch tiếng Hà Lan xuất bản năm 1657).
Nhiều bản viết tiếng Hà Lan có thể tìm thấy trong trang web đang xây dựng về Christiaan Huygens.
Năm 1662:
John Graunt bắt đầu xuất bản công trình nghiên cứu của anh ta với tên gọi Observations on the Bills of Mortality (Những quan sát tỷ lệ tử vong). Những thư báo hàng tuần trong giai đoạn này, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1604, được sử dụng để phát hiện sự bùng nổ một bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được phân tích một cách đúng đắn. John Graunt là người đầu tiên tóm tắt những dữ liệu thành biểu đồ và thực hiện việc phân tích mô tả thống kê trên những biểu đồ này.
John Graunt thảo luận về độ tin cậy của những dữ liệu mà ông nhận được. John Graunt là người đầu tiên giải thích "một cách thống kê" rằng số lượng nam và nữ tương đối bằng nhau và từ đó đưa ra một nhận định tỷ lệ giới tính trong sinh sản là ổn định. Ông còn là người đầu tiên xây dựng một biểu đồ sống góp phần tạo nên nền tảng cho toán học bảo hiểm nhân thọ.
Năm 1666:
Trong Le Journal des Scavans, ngày 2/8/1666 xuất hiện một bản báo cáo về công trình Observations on the Bills of Mortality, tái bản lần thứ 3 (1665) của John Graunt. Bản báo cáo này đưa ra một tóm tắt về "những phản ánh sự tìm hiểu", và dữ liệu về tuổi thọ trung bình của Graunt. Báo cáo này được Nicolaus Bernoulli sử dụng trong tập De Usu Artis Conjectandis in Jure (1709) của ông.
Năm 1670:
Juan Caramuel Lobkowitz xuất bản Mathesis Biceps, một bách khoa toàn thư toán học, trong đó ông ta in lại tiểu luận của Huygens De Ratiociniis in Ludo Alea. Ông sai lầm khi cho rằng tiểu luận này là của một nhà thiên văn học người Đan mạch C.S Longomntanus (4/10/1562-1647), một trợ lý của Tycho Brahe.
Rất nhiều những xuất bản sau này có thể tìm thấy trong trang web đang xây dựng về Christiaan Huygens.
Năm 1671:
Waerdije van Lijfrenten Naer Proportie van Losrenten của Johan de Witt được xuất bản. Quyển sách này tương đối hiếm, được đúc kết lại bởi Todhunter (1865) và Van der Waerden (1975). Những lá thư trao đổi giữa Jacob Bernoulli và Leibnitz vào những năm 1703--1705 cho thấy rằng Jacob biết về cuốn sách này và cố gắng để có được nó từ Leibnitz, người đang sở hữu một bản copy nhưng hình như đã đánh mất.
Năm 1684:
Năm năm tiếp theo Jacob Bernoulli phát triển ý tưởng của ông trên nền tảng xác suất như đã mô tả trong tập Maditationes (sự suy ngẫm) của ông. Những điều này là nền tảng cho tập Ars Conjectandi (1713) của ông ta.
Năm 1692:
Bản dịch của John Arbuthnot về De Ratiociniis in Ludo Aleae của Huygens trở thành xuất bản phẩm Anh ngữ đầu tiên về xác suất. Nó có nhan đề "Of the Laws of Chance" hay "a method of Calculation of the Hazards of Game, Plainly demonstrated, And applied to Games as present most in Use".
Lời nói đầu của cuốn sách có những lời bình phẩm như sau:
Không thể có một cái chết khi đã xác định nghị lực và phương hướng, nhưng cũng không thể rơi vào một khía cạnh xác định nào, tôi không biết có một sức mạnh và phương hướng nào có thể làm nó rơi vào một khía cạnh xác định, và do đó tôi gọi nó là Cơ duyên, thứ mà không là gì nhưng lại là nỗi khát khao của nghệ thuật...
Tôi tin Sự tính toán định lượng của xác suất có thể được cải tiến để trở thành một lối Tư duy lý luận hữu ích, thú vị; ứng dụng cho nhiều Biến cố lớn bất ngờ, bên cạnh những Trò chơi, chỉ những Trường hợp quá sức phức tạp, phụ thuộc vào Cơ duyên mà hầu hêt con người không biết đến; và như vậy tôi cũng sẵn sàng gợi ý, tất cả các cuộc vận động trên thế giới không là gì khác ngoài một hình thức đó là Phân tích định lượng xác suất trong những biến cố tình cờ, và dấu hiệu nhận biết một nhà chính trị lỗi lạc không gì hơn là người biết khéo léo trong Sự tính toán; chỉ những Nguyên lý được sử dụng trong việc giải quyết của vấn đề, không thể nghiên cứu trong sự "đóng kín" mà phải đòi hỏi có sự Quan sát của nhân loại.
Sự tính toán định lượng xác suất cũng nên được hình thành qua Kinh nghiệm, để dùng trong những cuộc chơi đánh cuộc về vấn đề gì đó; Số lẻ nếu có một người đàn bà và một đứa bé, nhưng đứa bé này phải là con trai, và nếu bạn muốn biết sẽ là số lẻ, bạn phải xem xét đến Tỷ lệ chịu đựng giữa nam và nữ.
... Tôi nghĩ rằng một con người có lẽ sẽ mạo hiểm với một vài sự so le như 100 hiến binh chiến đấu với cùng số người trong quân đội Hà Lan.
Nhận xét về tỷ lệ ... sức chịu đựng của nam so với nữ sẽ được mở rộng trong công trình của ông ta xuất bản năm 1710.
Năm 1693:
Công việc của Edmond Halley trên biểu đồ sinh được công bố trong An estimate of the Degrees of Mortality of Mankind (Một ước lượng về mức độ tỷ lệ tử vong của nhân loại), rút ra từ biểu đồ tìm hiểu về tỷ lệ sinh và tử tại thành phố thuộc Breslaw, với một nỗ lực muốn xác minh giá tiền trợ cấp sống và một vài sự xem xét khác.

Thông điệp:

****************Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách ****************

Copy đường link dưới đây gửi đến nick yahoo bạn bè!

Chữ kí của Yani.Swh
_________________
Have a nice day all big grin
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://diendanteen.nice-forum.com/
Yani.Swh
Bảng Nhãn
Bảng Nhãn


Pig
Age : 21
Đến từ : Việt nam
Job/hobbies : Học sinh cấp 3 :)
Châm ngôn sống : Just Believe !
Cảm xúc :

Bài gửiTiêu đề: Re: Những mốc quan trọng nhất của Lịch sử Lý thuyết xác suất   Tue Dec 23, 2008 8:44 am

Thế kỷ 18

Giới thiệu:
Tiểu luận của Huggens vẫn có giá trị trong lĩnh vực xác suất trong vòng 50 năm. Những năm đầu của thế kỷ 18 đã chứng kiến một loạt các công trình về xác suất của Montmort, Nicolaus Bernoulli, De Moivre và Jacob Bernoulli (sau khi ông mất). Có lẽ điều này xảy ra từ sự khích lệ của những "lời nói thì thầm", những bài viết rất khó hiểu trong Ars Conjectandi, mà ngay tác giả của nó là Jacob Bernoulli cũng trăn trở suy nghĩ trong 20 năm và trước khi ông mất vẫn chưa giải quyết xong.
Sau khi Montmort mất, chính De Moivre đã tiếp nối Doctrine Of Chance (Học thuyết sự ngẫu nhiên) của ông ta. Từ giữa thế kỷ 18 , vấn đề kết hợp những kết quả quan sát đã trở thành một đề tài quan trọng được nghiên cứu bởi Boscovich, Laplace và những nhà khoa học khác.
Năm 1705:
Jacob Bernoulli mất. Một bản trường ca của Fontenelle viết tóm tắt công trình Ars Conjectandi của Jacob Bernoulli đã được xuất bản trong những năm tiếp theo. Do sự tranh chấp của gia đình, phải mất 8 năm trước khi Ars Cọnjectandi được xuất bản. Đây là điều đáng buồn vì nội dung chính của văn bản đã được hoàn thành vào năm 1690.
Năm 1708:
Pierre Remond de Montmort xuất bản công trình Essai d'Analyse sur les Jeux de Hazards.
Năm 1709:
Luận văn của Nicolaus Bernoulli, De Usu Artis Conjectandis in Jure, được xuất bản vào năm 1709. Phần lớn của luận văn được sao chép trực tiếp từ những công trình của Jacob Bernoulli như là Meditationes Ars Cọnjectandi.
Năm 1710:
John Arbuthnot đọc bài luận của ông An Argument for Divine Providence, taken from the constant Regularity observed in the Births of both Sexes (Cuộc tranh cãi ý trời về tính đều khi quan sát tỷ lệ sinh giữa hai giới tính) (xuất bản năm 1712) cho hoàng gia. Ông đã xem xét số lượng lễ đặt tên hàng năm cho các bé trai và bé gái trong suốt giai đoạn dài trước đó (1629-1710). Ông nhấn mạnh rằng có nhiều bé trai hơn bé gái và tỷ lệ này gần như là hằng số. Từ nhận định này, ông đã tính xác suất và đưa ra sự khác nhau về số các kết quả là 0.5 Ngoại suy kết quả này, ông ta kết luận ... Tuổi và Tuổi... và... trên khắp Thế giới... đó là Nghệ thuật, không phải là Ngẫu nhiên, là sự định đoạt.
Năm 1711:
Abraham de Moivre xuất bản công trình De Mensura Sortis, seu, de Probilitate Eventuum in Ludis a Casu Fortuito Pendentibus.
Năm 1712:
Willem Jacob's Gravesande xuất bản công trình Démonstration Mathématique du soin que Dieu prend de diriger ce qui se passe dans ce monde, tiree du nombre des Garcons et des Filles qui naissent journellement. Ông ta gặp Nicolaus Bernoulli (1687-1759) khi Bernoulli trên đường đến Anh quốc thăm Hague, và cùng thảo luận bài nghiên cứu của Arbuthnots với Bernoulli. Jacob's Gravesande cải tiến sự xấp xỉ của Arbuthnot bằng cách đính chính những sự khác nhau về số liệu sinh đẻ xảy ra trong mỗi năm.
Năm 1713:
Ars Cọnjectandi của Jacob Bernoulli được cháu trai của ông, Nicolaus Bernoulli, xuất bản khi ông đã qua đời; công trình gồm bốn phần
I. Tractatum Hugenii De Ratiociniis in Ludo Aleae, Cum.
Một bản chú thích của Jacobi Bernoullj.
Một bản thuật lại chú thích của công trình De Ratiociniis in Ludo Aleae.
II. Doctrinam de Permutationibus & Combinationibus (Học thuyết về tính hoán vị & tính kết hợp) trong đó ông ta chứng minh phân phối nhị thức của Newton.
III. Usum Praecedentis Doctrinate in variis Sortitionibus & Ludis Aleae, trong đó ông ta áp dụng các yếu tố ở phần II vào các câu hỏi của xác suất.
IV. Usum & Applicationem Praecedentis Doctrinate in Civilibus, Moralibus & Oeconomicis, trong đó ông phát triển Luật (yếu) số lớn.
Năm 1713/14:
Pierre Remond de Montomort xuất bản công trình thứ 2, mở rộng các kết quả của cuốn sách Essai d'Analyse sur les Jeux de Hazards.
Năm 1714:
Willian Browne xuất bản bản dịch của ông về công trình De Ratiociniis in Ludo Alae của Huygens. Ông từ bỏ kế hoạch ban đầu là thêm vào một phần với nội dung là những ví dụ, bởi vì khi ông viết lời nói đầu, nó đã được bao quát đầy đủ bởi Pierre Remond de Montmort's enlarged Essai... Cuốn sách thứ 2 do John Arbuthnot dịch vào năm 1692 được xuất bản trong cùng năm.
Năm 1718:
Abraham de Moivre địng nghĩa sự độc lập thống kê trong cuốn sách của ông về Doctrine of Chances (Học thuyết sự Ngẫu nhiên).
Năm 1730:
Abraham de Moivre công bố định lý giới hạn trung tâm trong trường hợp đặc biệt là phân phối nhị thức.
Năm 1733:
Abraham de Moivre chỉ ra trong công trình của ông, Approximatio ad Summam Terminorum Binomii (a+b) in Seriem expansi,phân phối chuẩn là một xấp xỉ của phân phối nhị thức. Kết luận của ông :
Và như vậy trong tất cả các trường hợp, có thể thấy rằng tính Ngẫu nhiên sinh ra tính bất quy tắc, vẫn là những sự so le vô cùng lớn, qua Thời gian, những cái bất quy tắc sẽ không tỷ lệ với sự hồi quy của Quy luật, là những kết quả tự nhiên từ Thiết kế gốc.
Chúng ta phải đợi 77 năm trước khi phân phối chuẩn được nhận biết bởi Gauss và Laplace trong việc đưa ra miêu tả chung những sai số quan sát được sẽ có phân phối như thế nào.
Năm 1738:
Abraham de Moivre công bố cuốn sách mở rộng thứ 2 của Doctrine of Chances (Học thuyết sự ngẫu nhiên), với một bản mở rộng tổng quan của Approximatio (Anh ngữ).
Theo Stigler (1986) vào khoảng năm 1750, sự thuận lợi của việc tổ hợp những quan sát đã từ từ trở nên rõ ràng. Mãi đến khi một khái niệm được chấp nhận đó là khi tổ hợp những quan sát, sai số sẽ tăng lên thay vì bù đắp cho nhau. Một ngoại lệ là vào thế kỷ 16, nhà du hành vũ trụ Đan Mạch, Tycho Brahe, như đã được mô tả bởi Hald (1990).
Năm 1749, Leonard Euler trong khi đang cố gắng giải quyết vấn đề bất đẳng thức trong chuyển động của Sao Mộc và Sao Thổ, đã không có chiều hướng kết hợp những quan sát. Tobias Mayer trong khi khắc phục vấn đề tương tự đã đưa ra khái niệm hàng rào và giải quyết vấn đề.
Năm 1757:
The Dalmatian jesuit Roger Boscovich công bố ý tưởng của ông ta về việc tổ hợp những quan sát trong một bản đề cương của công trình năm 1755 với tham khảo Anh ngữ Christopher Maire của ông trong việc đo cung kinh tuyến nằm gần Rome. Một bản mô tả đầy đủ phương pháp của ông được công bố vào năm 1760, về sau xuất hiện trong một công trình khác đó là Voyage astronomique et geographique dans Pétat de Péglise (1770).
Năm 1763:
Định lý của Thomas Bayes được giới thiệu sau khi ông mất, nhưng hầu như nó không gây chú ý trong làng toán học cho tới tận năm 1780.
Năm 1774:
Pierre Simon Laplace công bố công trình Mémoire sur la probabilité des causes par les évènements,trong đó ông cố gắng Xác định giá trị trung bình có được sau ba lần quan sát trên cùng một hiện tượng. Có thể nói nội dung của công trình này dựa trên một hồi ký năm 1772 chưa được công bố và một công trình khác được mở rộng thúc đẩy từ kiến thức của những nhà khoa học khác cùng thời (Joseph-Louis Lagrange và Johan III Bernoulli) cũng nghiên cứu cùng một vấn đề. Tuy nhiên, một bước ngoặt sai lầm trong xấp xỉ đã làm Laphace kẹt ở phương trình bậc 15 trong lời giải của vấn đề.
Năm 1787:
Pierre Simon Laplace xuất bản tập Théorie de Jupiter et Saturne (Lý thuyết về sao Mộc và sao Thổ), trong đó ông giải quyết vấn đề bất đẳng thức trong chuyển động của sao Mộc và sao Thổ và chứng minh trạng thái ổn định của hệ mặt trời. Ông cải tiến dựa trên phương pháp sử dụng kết hợp những quan sát Tobias Mayer.

Thông điệp:

****************Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách ****************

Copy đường link dưới đây gửi đến nick yahoo bạn bè!

Chữ kí của Yani.Swh
_________________
Have a nice day all big grin
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://diendanteen.nice-forum.com/
Yani.Swh
Bảng Nhãn
Bảng Nhãn


Pig
Age : 21
Đến từ : Việt nam
Job/hobbies : Học sinh cấp 3 :)
Châm ngôn sống : Just Believe !
Cảm xúc :

Bài gửiTiêu đề: Re: Những mốc quan trọng nhất của Lịch sử Lý thuyết xác suất   Tue Dec 23, 2008 8:45 am

Thế kỷ 19

Năm 1805:
Adrien Marie Legendre công bố phương pháp bình phương cực tiểu trong cuốn sách Nouvelles méthodes pour la détermination des orbites des comètes. Theo Stigler (1986, trang145-146), Gauss nhắc đến phương pháp này như một nguyên tắc đơn giản vào năm 1809 và đã đề cập đến việc chính ông phát triển phương pháp bình phương cực tiểu vào năm 1775, nhưng không công bố. Đây chính là nguyên nhân Legendre tố cáo Gaus về tội ăn cắp ý tưởng. (Xem trong Eric W.Weissteins Biography of Gauss. Tuy nhiên, chú ý rằng Weissteins dường như xác minh khám phá của Legendres vào năm 1811.)
Năm 1809:
Carl Friedrich Gauss đã chỉ ra được phân phối chuẩn là sự mô tả phân phối của những lỗi quan sát trong công trình Theoria Motus Corporum Coclestium in Sectionibus Conicis Solum Ambientum. Tuy nhiên, lý lẽ lập luận của ông hơi vòng vo.
Năm 1810:
Pierre Simon Laplace người nhận ra yếu điểm trong công việc của Gauss năm 1809, đã đưa ra bản chặt chẽ và cải tiến hơn trong phần bổ sung của cuốn sách Mémoire sur les approximations des formules qui sont fonctions de très grant nombres et sur leur application aux probabilités của ông.
Năm 1812:
Pierre Simon Laplace công bố công trình Théorie analytique des probabilités (Lý thuyết giải tích xác xuất).
Năm 1815:
Bessel đưa ra thuật ngữ probable error (sai số có thể) (wahrscheinliche Fehler) để chỉ ra khoảng cách giữa giá trị trung bình và phân vị trong phân phối chuẩn (chính bằng 0,6745 độ lệch chuẩn). Nó là thước đo cho tính hay thay đổi mãi cho đến khi được thay thế bởi độ lệch chuẩn.
Năm 1835:
Adolphe Quatelet giới thiệu trong Sur l'homme et le developpement de ses facultés, essai d'une physique sociale ý tưởng của ông về l'homme moyen (người đàn ông trung bình); ý tưởng này xuất phát từ những ai trong chúng ta chệch đi nhiều hay ít so với phân phối chuẩn. Quatelet chú trọng đến phương pháp dùng thông kê và ý tưởng này thật sự hữu ích trong thiên văn học và toán học nhằm nghiên cứu các thuộc tính của con người và trong con đường ông cải tiến xấp xỉ của mình.
Năm 1837:
Một vài điều chưa rõ trong Recherchés sur la probabilité des jugements... của Simeon Denis Poisson, ông ta đã giới thiệu phân phối, mà vào năm 1914 phân phối này được H.E. Spoer đặt tên là phân phối Poisson. Poisson đưa ra "Luật số lớn".
Phân phối Poisson đạt được vị trí quan trọng vào năm 1973 khi Thomas Pynchon miêu tả phân phối tác động của tên lửa V2 trong Gravity's Rainbow.
Năm 1867:
Pafnuti Chebyshev đã đưa ra và chứng minh bất đẳng thức Chebyshev.
Năm 1875:
Francis Galton giới thiệu cách sử dụng đường bậc bốn và đặt tên ogive cho hàm phân phối tích lũy chuẩn ngược.
Năm 1885:
Francis Galton đã sử dụng hồi quy.
Năm 1893:
Karl Pearson đặt tên độ lệch chuẩn cho độ đo phân tán, được biết đến như "Sai số bình phương trung bình so với gốc", "Sai số của bình phương trung bình" hay "Trung bình sai số".
Năm 1897:
Karl Pearson giới thiệu hệ số tương quan (Pearson). Vào năm 1888 Galton cũng đã có cùng ý tưởng nhưng ông không theo đuổi dòng suy nghĩ này (Stigler, 1986, p. 297-299).
Cái tên Auguste Bravais(1846) cũng gắn liền với khái niệm hệ số tương quan (Mối tương quan Bravais-Pearson). Nhưng theo Stigler (1986, p. 353) sự gắn liền này không xác thực.
Thế kỷ 20
Giới thiệu:
Thế kỷ XX được đặc trưng bởi một số tranh luận về phương pháp luận. Đầu tiên, có một sự bất đồng trong nhìn nhận đến sở thích nghiên cứu với mức ý nghĩa tương quan lớn (Karl Pearson) hay nghiên cứu trên những thực nghiệm có mức ý nghĩa nhỏ (Ronald Fisher). Lĩnh vực nghiên cứu thực nghiệm với mức thang nhỏ đã chứng kiến sự nổi lên của một cuộc tranh luận thứ 2: H testing (Ronald Fisher) đối lập với bao gồm H và khái niệm Power (Jerzy Neyman & Egon Pearson).
Niềm tin của Spearman vào một nhân tố thông minh chung (g) mà được cho là sức mạnh ý định bên cạnh sự phát triển của nhân tố phân tích, đã dẫn đến cuộc tranh cãi kéo dài đến vài thập kỷ, với Thurstone và những nhà khoa học khác, những người dần dần đề cao nhân tố phân tích như là một cách duy nhất đơn giản hóa số liệu.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, bùng nổ các bài toán không-tham số và sự phát minh máy tính đã tạo ra khối luợng lớn khả năng thực hiện những ý tưởng mới và cũ như là mức thang đa chiều, bootstrappingphân tích đa biến ngẫu nhiên.
Năm 1900:
Karl Pearson đưa ra ý tưởng phân phối Chi bình phương.
Năm 1904:
Charles Spearman dựa trên nền tảng về phân tích thừa số và hoàn thành nó trong 8 năm.
Spearman biểu diễn hệ số tương quan cho vấn đề sắp xếp số liệu.
Năm 1908:
William Gosset giới thiệu công trình về phân phối t và ứng dụng của phép thử t.
Sự xuất hiện đầu tiên của phép thử t trong tâm lý học và những lĩnh vực liên quan đã xảy ra trước thập niên 30 của thế kỷ, nhưng Shen (1940) vẫn nhắc đến phép thử t như chưa phải là cách ứng dụng chung trong lĩnh vực giáo dục.
Năm 1925:
Ronald Alymer Fisher công bố công trình Statistical methods for research workers. Đây là cuốn sách giáo khoa giới thiệu phân tích biến ngẫu nhiên.
Năm 1933:
Andrei Kolmogorov đưa ra những tiên đề cơ bản của lý thuyết xác suất trong cuốn sách của ông
Grundbegriffe der Wahrscheinlichkeitsrechnung (Foundations of the Calculus of Probabilities).
Ông cũng giới thiệu phép thử thống kê



.





Năm 1933:

Harold Hotelling công bố công trình nghiên cứu về phân tích thành phần chính.



Năm 1939:

Vadimir Smirnov dùng thống kê được phát triển bởi Kolmogorov để xây dựng phép thử Kolmogorov-Smirnov.



Năm 1976:

Gene Glass công bố báo cáo của ông về việc kết hợp những kết quả trong của nghiên cứu đa cấp và đặt tên cho phương pháp này là meta-analysis. Mặc dù có nhiều ý tưởng đã tồn tại từ trước đó (Lush 1931, Fisher 1932, Pearson 1933, Snedecor 1946) nhưng chính Gass là người đã mang lại cho phương pháp này sự thúc đẩy để đạt được vị trí xứng đáng.



Năm 1977:

John Tukey giới thiệu phân tích dữ liệu giải thích (EDA) như là thuốc giải độc cho giả thiết kiểm định tuần tự thay vì quan sát đầu tiên về số liệu.

Thông điệp:

****************Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách ****************

Copy đường link dưới đây gửi đến nick yahoo bạn bè!

Chữ kí của Yani.Swh
_________________
Have a nice day all big grin
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://diendanteen.nice-forum.com/
[ rEck...™ ]
Tiến sĩ
Tiến sĩ


Pig
Age : 21
Đến từ : Nhà tui chứ ai...XD
Job/hobbies : Học sinh ngây thơ vô số tôi là rEck...XD
Châm ngôn sống : How lucky I am to have known someone who was so hard to say goodbye to
Cảm xúc :

Bài gửiTiêu đề: Re: Những mốc quan trọng nhất của Lịch sử Lý thuyết xác suất   Tue Dec 23, 2008 12:19 pm

Ljnk die kja`

Thông điệp:

****************Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách ****************

Copy đường link dưới đây gửi đến nick yahoo bạn bè!

Chữ kí của [ rEck...™ ]
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.hoahoctro.vn/home.hht
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Những mốc quan trọng nhất của Lịch sử Lý thuyết xác suất   Today at 12:44 am

Thông điệp:

****************Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách ****************

Copy đường link dưới đây gửi đến nick yahoo bạn bè!

Chữ kí của Sponsored content
Về Đầu Trang Go down
 

Những mốc quan trọng nhất của Lịch sử Lý thuyết xác suất

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
* Viết tiếng Việt có dấu, là tôn trọng người đọc.
* Chia sẻ bài sưu tầm có ghi rõ nguồn, là tôn trọng người viết.
* Thực hiện những điều trên, là tôn trọng chính mình.
-Nếu chèn smilies có vấn đề thì bấm A/a trên phải khung viết bài
Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
-‘๑’-Diendanteen - 2DT -‘๑’- :: Học đường-
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a free blog